Tổng hợp một số chỉ số thực vật trong Viễn Thám

Thảo luận trong 'Giải đáp thắc mắc các phần mềm trong Viễn Thám' bắt đầu bởi nguyentham07mt, 2/12/11.

  1. nguyentham07mt

    nguyentham07mt New Member

    Tham gia ngày:
    25/10/11
    Bài viết:
    83
    Đã được thích:
    0
    Điểm thành tích:
    0
    Bất kỳ vật thể nào trên bề mặt đất đều có tác dụng điện từ . Đồng thời bất kỳ vật thể nào có nhiệt độ cao hơn nhiệt độ không tuyệt đối (nhiệt độ k =-273,160C) đều liên tục phát ra sóng điện từ (nhiệt bức xạ). Do thành phần cấu tạo của các vật thể trên bề mặt trái đất khác nhau nên sự hấp thu hoặc phát xạ các sóng điện từ là khác nhau, ngay như thảm thực vật mỗi loại thực vật khác nhau cũng hấp thu và phát xạ các sóng điện từ cũng khác nhau. Vì vậy trên cơ sở các dữ liệu viễn thám ta có thể xác định được các đặc trưng quang phổ khác nhau của của bề mặt trái đất. Trong đó một trong những đặc trưng quang phổ quan trọng nhất của viễn thám là quang phổ thực vật. Từ những đặc trưng này làm cơ sở để xây dựng lên các chỉ số thực vật, là những thông tin quan trọng trong nghiên cứu và phục vụ khí tượng nông nghiệp.
    Các chỉ số phổ thực vật được phân tách từ các băng cận hồng ngoại, hồng ngoại và dải đỏ là các tham số trung gian mà từ đó có thể thấy được các đặc tính khác nhau của thảm thực vật như: sinh khối, chỉ số diện tích lá, khả năng quang hợp, tổng các sản phẩm sinh khối theo mùa mà thực vật có thể tạo ra. Những đặc tính đó có liên quan và phụ thuộc rất lớn vào dạng thực vật bao phủ và thời tiết, đặc tính sinh lý, sinh hoá và sâu bệnh…Công nghệ gần đúng để giám sát đặc tính các hệ sinh thái khác nhau là phép nhận dạng chuẩn và phép so sánh giữa chúng.
    Đặc trưng cho bề mặt trái đất bao gồm các chỉ số thực vật như sau:
    1. Chỉ số thực vật NDVI (normalized difference vegetation index)
    NDIV = (IR-R)/(IR+R)
    Trong đó IR là giá trị bức xạ của bước sóng cận hồng ngoại (near infrared), R là giá trị bức xạ của bước sóng nhìn thấy (visible).Chỉ số thực vật được dùng rất rộng rãi để xác định mật độ phân bố của thảm thực vật, đánh giá trạng thái sinh trưởng và phát triển của cây trồng, làm cơ sở số liệu để dự báo sâu bệnh, hạn hán, diện tích năng suất và sản lượng cây trồng…Hình1 là bản đồ chỉ số thực vật (NDVI) bề mặt trái đất theo MODIS

    2. Tỷ số chỉ số thực vật RVI (ratio vegetion index)
    RIV = IR/R
    RVI thường dùng để xác định chỉ số diện tích lá, sinh khối khô của lá và hàm lượng chất diệp lục trong lá. Vì vậy chỉ số RVI được dùng để đánh giá mức độ che phủ và phân biệt các lớp thảm thực vật khác nhau nhất là những thảm thực vật có độ che phủ cao.

    3. Chỉ số thực vật sai khác DVI (difference vegetion index) hay còn gọi là chỉ số thực vật môi trường EVI (environmental vegetion index), chỉ số thực vật cây trồng CVI (crop vegetion index).
    DVI =IR R

    4. Chỉ số màu xanh thực vật GVI (green vegetation index)
    GVI=1.6225CH2– 2.2978CH1 + 11.0656
    Trong đó CH2 và CH1 là quang phổ của các bước sóng cận hồng ngoại và bước sóng nhìn thấy của vệ tinh NOAA/AVHRR. Hệ số GVI có ưu điểm là giảm được mức tối thiểu sự ảnh hưởng của đất đai đến chỉ số thực vật.
    5. Chỉ số màu sáng thực vật LVI (light vegetation index)
    Năm 1976 R. J. Kauth và G. S Thomas đã tìm được mối liên hệ giữa chỉ số hạn hán thực vật và số liệu vệ tinh TM: LVI=0.3037b1+0.2793b2+0.4743b3+0.5585b4+0.5082b5+0.1863b7
    Trong đó b1-b7 là quang phổ của các bước sóng khác nhau của ảnh vệ tinh TM.

    6. Chỉ số úa vàng thực vật YVI (yellow vegetation index)
    YVI = (R+G)/2
    Trong đó R là quang phổ bước sóng nhìn thấy (0.63-0.69), G bước sóng xanh (0.52-0.60). Chỉ
    số này chỉ mức độ hạn hán của thực vật

    7. Chỉ số màu nâu thực vật BVI (brown vegetation index)
    BVI=(b5+b7)/2
    Chỉ số này phản ánh mức độ thiếu nước của thực vật. Chỉ số này còn được dùng để đánh giá tác hại của sâu bệnh đối với cây trồng. Do các chỉ số viễn thám thực vật rất phong phú vì vậy hoàn toàn có khả năng sử dụng các thông tin viễn thám để giải quyết nhiều vấn đề khác nhau trong sản xuất nông nghiệp.
     
    Tags:
  2. NguyenTuan

    NguyenTuan Member

    Tham gia ngày:
    21/10/11
    Bài viết:
    414
    Đã được thích:
    1
    Điểm thành tích:
    16
    Mình thường sử dụng giải đoán ảnh viễn thám để phân chia hiện trạng rừng. Bạn có phương pháp pháp nào giải đoán các hiện trạng rừng: IIA, IIIA1, IIIA2... bằng ảnh viễn thám không bạn (Mối liên hệ giữa các chỉ số thực vật và hiện trạng rừng).
     
  3. vuminhtuanqn

    vuminhtuanqn Guest

    Bạn nên mô tả rõ IIA, IIIA1, IIIA2 là gì?
     
  4. tuananhvienngoc

    tuananhvienngoc New Member

    Tham gia ngày:
    21/10/11
    Bài viết:
    14
    Đã được thích:
    0
    Điểm thành tích:
    0
    Bạn có thể chỉ mình tính "27 vegetation indices" trong ENVI không?
     
  5. ninhbinhquetoi

    ninhbinhquetoi New Member

    Tham gia ngày:
    29/10/11
    Bài viết:
    336
    Đã được thích:
    2
    Điểm thành tích:
    0
    Bác này không phải là dân FORESTRY.
    BẢNG HỆ THỐNG PHÂN LOẠI RỪNG CỦA LOETSCHAU
    ÁP DỤNG CHO RỪNG GỖ TỰ NHIÊN LÁ RỘNG


    Theo hệ thống phân loại rừng của Loetschau thì rừng gỗ tự nhiên lá rộng được chia làm 4 loại chính:


    1. Loại I: Đất không có rừng, đây là nhóm không có rừng hoặc hiện tại chưa thành rừng, chỉ có trảng cỏ, trảng cây bụi hay tre nứa mọc rải rác, độ che phủ dưới 30%, tuỳ theo hiện trạng mà nhóm này được chia thành 3 kiểu trạng thái phụ:
    - Kiểu phụ IA: Trảng cỏ: trạng thái này được đặc trưng bởi lớp thực bì, cỏ lau lách.
    - Kiểu phụ IB: Trảng cây bụi, nó đặc trưng bởi lớp thực bì là cây bụi và một số cây thân gỗ nhỏ và tre nứa mọc rải rác
    - Kiểu phụ IC: Cây bụi có cây gỗ rải rác tái sinh, ở trạng thái này số lượng cây gỗ tái sinh có chiều cao >1m đạt từ 1000 cây/ha trở lên, và có ít cây gỗ đường kính > 6cm


    2. Loại II: Đất rừng non phục hồi sau nương rẫy hoặc sau khai thác trắng, đặc trưng của kiểu rừng này là rừng cây gỗ có đường kính nhỏ, nó có thể chia thành 2 kiểu phụ:
    - Kiểu phụ IIA: Rừng cây tiên phong phục hồi sau nương rẫy và đặc trưng bởi lớp cây tiên phong, ưa sáng,mọc nhanh, thường đều tuỏi và kết cấu một tầng, đường kính D<10cm, G<10m2/ha, rừng chưa có trữ lượng hoặc trữ lượng nhỏ 25-30m3.
    - Kiểu phụ IIB: Rừng cây tiên phong phục hồi sau khai thác kiệt, phần lớn trạng thái này bao gồm những cây non với loài cây ưa sáng, thành phần loài đã phức tạp, không đều tuổi do tổ thành loài cây ưu thế không rõ ràng, có thể còn sót lại một số cây lớn nhưng trữ lượng không đáng kể, đường kính cây cao phổ biến không quá 20cm, G>10m2/ha, trữ lượng 30-60m3.


    3. Loại III: Rừng thứ sinh qua khai thác chọn, đây kiểu rừng đã bị tác động khai phá của con người ở nhiều mức độ khác nhau làm cho kết cấu rừng có sự thay đổi. Tuỳ theo mức độ tác động, khả năng tái sinh và cung cấp lâm sản mà có thể phân loại khác nhau:
    - Kiểu phụ IIIA: Rừng thứ sinh qua khai thác chọn kiệt, đang phục hồi (rừng nghèo), khả năng khai thác bị hạn chế, cấu trúc rừng bị phá vỡ hoàn toàn hoặc thay đổi cơ bản, trạng thái này có thể chia thành một số kiểu phụ:
    + Kiểu phụ IIIA1: Rừng mới qua khai thác chọn kiệt, tán rừng bị phá vỡ thành từng mảng lớn, tầng trên còn sót lại một số cây cao nhưng phẩm chất xấu, nhiều dây leo bụi dậm, tre nứa xâm lấn. Độ tàn che của rừng S<0,3, G<10m2/ha, GD>40<2m2/ha, trữ lượng <80m3. Tuỳ thuộc vào mật độ tái sinh mà nó có thể chia nhỏ hơn nữa:
    - IIIA1-1: là trạng thái rừng thiếu tái sinh (mật độ cây tái sinh mục đích có chiều cao H>1m là nhỏ hơn1000 cây/ha)
    - IIIA1-2: là trạng thái đủ tái sinh vói mật độ >1000 cây/ ha
    + Kiểu phụ IIIA2: Rừng qua khai thác kiệt bắt đầu phục hồi, đặc trưng của trạng thái này là đã hình thành tầng giữa vươn lên chiếm ưu thế với lớp cây đại bộ phận có đường kinh 20-30cm. Rừng có 2 tầng trở lên, tầng trên tán không liên tục được hình thành chủ yếu từ những cây cũ còn lại, còn có những cây to khoẻ vượt tán. Độ tàn che của rừng S>0,3, G<10m2/ha, GD>40<2m2/ha, trữ lượng 80-120m3. Cũng tuỳ vào mật độ tái sinh có thể chia nhỏ thành:
    - IIIA2-1: là trạng thái rừng thiếu tái sinh (mật độ cây tái sinh mục đích có chiều cao H>1m là nhỏ hơn1000 cây/ha)
    - IIIA2-2: là trạng thái đủ tái sinh vói mật độ >1000 cây/ ha
    + Kiểu phụ IIIA3: Rừng đã có quá trình phục hồi tốt (rừng giàu). Độ tàn che của rừng S>0,5, G16-21m2/ha, GD>40<2m2/ha, trữ lượng >120m3.
    - Kiểu IIIB: Rừng khai thác ít, trữ lượng rừng còn cao, chia làm 2 kiểu phụ:
    + Kiểu phụ IIIB1: Rừng có độ tàn che S>0,5, G=26m2/ha, GD>402-5m2/ha,M>250m3.
    + Kiểu phụ IIIB2: Rừng có độ tàn che S>0,5, G=26-30 m2/ha, GD>402-5m2/ha, trữ lượng>250m3/ha
    4. Loại IV: Rừng nguyên sinh hoặc thứ sinh phục hồi tốt, ít bị tác động, trữ và sản lượng cao, có độ tàn che S>0,6, G>30 m2/ha, GD>40>5m2/ha.
     
  6. giang_2u

    giang_2u New Member

    Tham gia ngày:
    27/10/11
    Bài viết:
    4
    Đã được thích:
    0
    Điểm thành tích:
    0

Chia sẻ trang này

Share
Đang tải...